3 months ago ·

Những quan niệm chung trong doanh nghiệp bao gồm các yếu tố

Tính cách của doanh nghiệp được thể hiện ở một số loại tính cách như: Tính cách ưa mạo hiểm: Trong tính cách này, nhân viên được huấn luyện, khuyến khích việc chấp nhận rủi ro, sẵn sàng mạo hiểm. Họ đuợc học hỏi sẵn sằng đương đầu với những bất chắc, thử nghiệm những cách làm mới. Tính cách này thường xuất hiện trong các tổ chức mà các hoạt động kinh doanh thay đổi thường xuyên. Nhân viên là người được giao nhiều quyền quyết định hơn, bởi nếu sự phân quyền thấp, người chủ sẽ ôm đồm quá nhiều công việc. Một sự linh động được ví dụ là nhân viên được quyền quyết định ký hợp đồng trong một biên độ giá nhất định.

Tính cách chú trọng chi tiết: Đối với một số tổ chức, người ta quan tâm đến từng khía cạnh chi tiết. Những tổ chức này thường là những tổ chức sản xuất. Đặc thù của các tổ chức này là thời gian khấu hao máy móc cao, sản phẩm gồm nhiều chi tiết và thường phải đảm bảo một "mức chất lượng" nhất định. Những tổ chức đòi hỏi mức chất lượng thường phải có tính cách này, không thể đảm bảo chất lượng với những người cẩu thả, thích "bay bổng".

Tính cách chú trọng kết quả: Một số tổ chức lại chú trọng vào kết quả công việc. Tính cách này có thể phù hợp đặc biệt với các tổ chức nhỏ, tại đó nhân viên phải làm nhiều việc và chịu trách nhiệm về kết quả cuối cùng của công việc. Các tổ chức lớn hơn ít áp dụng phương thức này hơn.

Tính cách chú trọng con người: Nhiều tổ chức cho rằng con người là tài liệu quan trọng nhất của doanh nghiệp và tin rằng tri thức, kinh nghiệm và sự sang tạo của nhân viên là nhân tố quyết định sự thành công của họ. Đối với các tổ chức này, con người được đặt vào trung tâm trong quá trình hoạch định và thực hiện chiến lược của doanh nghiệp. Tính cách chú trọng tập thể: Ngày nay các tổ chức càng ngày càng chú trọng vào xây dựng phong cách quản lý theo nhóm, đội.

Tính chất tương đồng trong công việc giúp các thành viên trong tổ chức dễ gần với nhau hơn, các thành viên luôn cố gằng duy trì tinh thần đồng đội và hịêu quả làm việc của nhóm. Những tổ chức nhỏ hay các bộ phận của các công ty lớn có xu hướng xây dựng thành các nhóm làm việc.

Tính cách chú trọng sự nhiệt tình của người lao động: Nhiều tổ chức cho rằng, sự nhiệt tình của nhân viên chính là yếu tố quan trọng nhất của sự sáng tạo và nâng cao năng suất lao động. Những tổ chức như vậy thường có tính tự lực, tự cường cao, luôn kiên quyết trong cạnh tranh, tự lực tự cường trong việc bảo vệ thương hịêu của mình.

Tính cách chú trọng sự ổn định: Một trong những mục đích của các tổ chức là sự ổn định và phát triển. Nhiều tổ chức cho rằng sự tăng trưởng ổn định là chía khoá cho sự phát triển bền vững của tổ chức. Phát triển chậm, không phát triển hay phát triển nóng được coi là dấu hịêu của sự suy thoái. Lý tưởng là những động lực, giá trị, ý nghĩa cao cả, sâu sắc, giúp con người cảm thông, chia sẽ và dẫn dắt họ trong nhận thức. cảm nhận và xúc động trước sự vật và hiện tượng. Lý tưởng của tổ chức có thể là sứ mạng là lợi nhuận, là đỉnh cao công nghệtrong khi lý tưởng của nhân viên là kiếm được nhiều tiền, là danh phận.Do vậy, nhiều tổ chức đã cố kết hợp lý tưởng của tổ chức và của nhân viên làm một qua thoả mãn các nhu cầu của nhân viên. Niềm tin là khái niệm đề cập đến mọi người cho rằng thế nào là đúng là sai. Niềm tin khác lý tưởng ở chỗ, nó hình thành một cách có ý thức, được xét đoán và rõ ràng, trong khi lý tưởng thì khó giải thích hơn, lý tưởng có thể đến từ sau trong tiềm thức. Niềm tin được hình thành từ ở mức độ nhận thức đơn giản trong khi lý tưởng được hình thành không chỉ ở niềm tin mà con bao gồm cả các giá trị về cảm xúc và đạo đức của họ. Xây dựng niềm tin trong doanh nghiệp đòi hỏi các nhà quản lý phải có trình độ kiến thức và kinh nghiệm. Chuẩn mực đạo đức là quan niệm của mỗi nhân viên về các giá trị đạo đức. 

 

Read more 0

3 months ago ·

Chính sách nhập khẩu sản phẩm dệt may của Mỹ

Quy định về thuế quan.

Muốn xuất khẩu hàng dệt may vào Mỹ, trước hết cần nghiên cứu kỹ hệ thống thuế nhập khẩu của họ.. các mức thuế áp dụng cho từng loại hàng hoá nhập khẩu vào Mỹ được quy định trong danh mục điều hoà thuế quan Mỹ (Harmlonized Tariff Schedules – HTS). THS được xây dựng phù hợp với công ước HS của tổ chức Hải quan Quốc tế (WCO).

a. Danh mục điều hoà thuế quan Mỹ (HTS).

Hệ thống điều hoà này quy định chi tiết danh pháp quốc tế về thuế suất và phân chia hàng hoá thành 21 nhóm và 97 chương. Nhìn chung biểu thuế nhập khẩu vào Mỹ được tính theo 3 phương pháp cơ bản sau:

Thuế xuất trị giá: Là thuế suất tính theo tỷ lệ % giá trị nhập khẩu. Đây là thuế suất phổ thông và hầu hết các hàng hoá nhập khẩu vào Mỹ đều được tính theo phương thức này.

Thuế suất đặc định: Là thếu suất thể hiện bằng Mỹ một khoản phí cụ thể. Ví dụ: một chiếc đĩa compact phảI chịu thuế suất 1USD bất kể giá trị của đĩa này là bao nhiêu.

Thuế phối hợp: là mức thuế áp dụng cả hai phương thức tính theo thuế suất trị giá và thuế suất đặc định. Mý cũng áp dụng thuế suất hạn ngạch để hạn chế nhập khẩu một số loại mặt hàng. Các hàng hoá này khi nhập khẩu vào Mỹ sẽ được cắt giảm thuế quan nhưng nếu hàng nhập khẩu vượt quá số lượng quy định sẽ chịu mức thuế suất cao hơn. Một khi hàng hoá nhập khẩu vào Mỹ được phân loại đúng thì thuế suất được xác định bằng cách tham chiếu áp với các cột theo mô tả và phân loại của HTS như sau:

Luật pháp Mỹ cho chủ hàng được chủ động xếp ngạch thuế cho các mặt hàng nhập và nộp thuế theo kê khai, do đó người nhập hàng cần phải hiểu nguyên tắc xếp loại:

– Trước khi xếp ngạch thuế, phải cố tìm được sự mô tả chính xác của món hàng trong biểu thuế nhập khẩu. Trong trường hợp món hàng có 2-3 bộ phận có mã số thuế khác nhau, thì phải dựa vào đặc tính chủ yếu của món hàng để xếp loại.

– Nếu dựa vào đặc tính chủ yếu cũng không xếp loại được, thì áp dụng nguyên tắc xếp loại theo mặt hàng gắn với mặt hàng được mô tả trong biểu htuế. Nếu cũng không được thì xếp loại theo mục đích sử dụng của mặt hàng (theo đặc tính sử dụng chính).

Read more 0

3 months ago ·

Xu hướng phát triển của ngành may mặc Việt nam

 

Trong những năm qua, tốc độ tăng trưởng hàng may mặc Việt Nam mạnh, là một trong những nước xuất khẩu hàng may mặc lớn của thế giới. Từ nay đến năm 2010 Việt Nam cố gắng tăng tỉ lệ gia công FOB lên đồng thời tăng doanh thu cho xuất khẩu thông qua hình thức mua đứt bán đoạn. Tuy nhiên, ngành may mặc Việt Nam nằm trong xu thế quốc tế hoá hàng hoá, sự cạnh tranh để tồn tại và phát triển ngày càng quyết liệt trên các phư­ơng diện. Điều đó đặt doanh nghiệp Việt Nam đứng tr­ước những thử thách khắc nghiệt về cắt giảm thuế quan, yêu cầu nâng cao chất lư­ợng sản phẩm…

Căn cứ vào thị trư­ờng tiêu thụ sản phẩm trong và ngoài nư­ớc, vào xu thế chuyển dịch hàng may mặc ở các nư­ớc kinh tế phát triển và trong khu vực, có thể dự kiến đến năm 2006 xuất khẩu hàng may mặc ước tính đạt được khoảng 5 – 6 tỷ USD. Trước mắt các doanh nghiệp may mặc Việt Nam cần giữ được các hợp đồng gia công lớn với các nhà nhập khẩu nhằm tranh thủ về máy móc kỹ thuật hiện đại, học hỏi mẫu mã mặt khác tận dụng nguồn nguyên liệu chất lượng cao. Ngoài ra, các doanh nghiệp đẩy mạnh hơn nữa việc chiếm lĩnh thị trường nội địa với lợi thế sân nhà, tập trung nâng cao giá trị gia tăng của hàng hoá. Để đạt được điều đó Việt Nam cần chủ động trong các phương thức tiếp thị để thu hút được các hợp đồng có giá trị gia tăng cao hơn.

Trong thời gian tới thị trường may mặc Việt Nam bước sang thế kỷ XXI với những yêu cầu khác của thị trường nước ngoài, thị trường trong nước. Đặt ra cho ngành may mặc những vấn đề cần phải được giải quyết tốt, xoay quanh:

– Trình độ khoa học và công nghệ.        

– Vốn đầu tư và qui hoạch phát triển hợp lý

– Chất lượng và nguồn nguyên liệu

– Sự đồng bộ tiên tiến và hiệu quả của hệ thống

Giải quyết tốt những vấn đề này ngành Dệt – May sẽ tạo cơ hội để vươn lên vững chắc trong điều kiện mới.

Read more 0

3 months ago ·

Nền giáo dục Nhật Bản

Nhật Bản là nước nghèo tài nguyên, chỉ trừ một thứ, đó là con người. Hệ thống giáo dục được xem như chìa khoá làm cho nền kinh tế tăng trưởng và ổn định về mặt chính trị. Việc đầu tư cho giáo dục có ý nghĩa lớn đối với đất nước. Nhà nước đã nỗ lực để tạo lập ra một hệ thống giáo dục có thể đào tạo lực lượng lao động có hiệu quả cao, đưa đất nước tiến tới hiện đại hoá. Ở cấp độ cá nhân, người lao động Nhật Bản ngày nay được đánh giá chủ yếu dựa vào học vấn chứ không phải địa vị gia đình, địa vị xã hội hay thu nhập. Hệ thống giáo dục được phân thành 5 giai đoạn: Vườn trẻ (từ 1 đến 3 năm), tiểu học (6 năm), trung học bậc thấp (3 năm), trung học bậc cao (3 năm) và đại học (thông thường là 4 năm).

Ngoài ra còn có các trường cao đẳng với các khoá học 2 hoặc 3 năm. Nhiều trường đại học còn mở các khoá nâng cao sau đại học. Giáo dục phổ cập miễn phí cho tất cả trẻ em từ 6 đến 15 tuổi. Tuy vậy, tuyệt đại đa số học sinh học hết các trường trung học bậc thấp đều tiếp tục học lên, và trong thực tế các trường trung học bậc cao hiện đã trở thành bộ phận cơ bản trong hệ thống giáo dục trẻ em. Trình độ học vấn là một nhân tố quan trọng trong chế độ thuê người làm việc suốt đời của Nhật Bản. Để có được một việc làm trong công ty hàng đầu cần phải tốt nghiệp một trường đại học hàng đầu, và để đạt được điều đó thì lại phải tốt nghiệp các trường trung học bậc cao và bậc thấp hàng đầu. Do sự cạnh tranh quyết liệt trong các kỳ thi vào trường, nên ngày càng có nhiều sinh viên theo học các trường "luyện thi" tư nhân. Những trường này được lập ra để dạy thêm và nâng cao giúp các học sinh thi vào được các trường mà họ chọn, hiện có ở tất cả các cấp học từ nhà trẻ cho đến các kỳ thi vào trường đại học.

Read more 0

3 months ago ·

Đánh giá về chính sách bảo hộ mậu dịch của Nhật Bản

Về Thuế quan, cơ chế kiểm định hải quan của Nhật rất chặt chẽ, sản phẩm được kiểm tra chất lượng trước khi nhập khẩu, đảm bảo an toàn y tế cho người dân. Nhật Bản đã áp dụng biện pháp khuyến khích và ưu đãi cho các nhà xuất khẩu như: miễn giảm thế cho các công ty xuất nhập khẩu; thông qua các ngân hàng phát triển của Nhật Bản và ngân hàng xuất nhập khẩu. Nhật Bản đã có đạo luật rõ ràng về việc áp dụng quy chế thuế quan đặc biệt để bảo vệ lợi ích của các ngành sản xuất nội địa mỗi khi có thiệt hại thật sự do việc bán phá giá, trợ cấp xuất khẩu của nước ngoài. Theo hiệp hội thuế quan Nhật Bản, biểu thuế áp dụng cho các mặt hàng nhập khẩu vào Nhật Bản là một trong số những biểu thuế thấp nhất trên thế giới. Tuy nhiên, trong thương mại, Nhật bản bị kêu ca vì thực hiện các chính sách thuế quan nhằm hạn chế và bảo hộ trong nước làm giảm sức mua của người Nhật Bản. Một số mặt hàng như đồ da và các sản phẩm nông nghiệp vẫn chịu thuế suất cao. Bên cạnh đó, thuế đánh vào các sản phẩm gia công cũng còn tương đối cao. Hiện nay, thuế suất áp dụng đối với các mặt hàng nông nghiệp đang giảm dần. Các mặt hàng như ô tô, phụ kiện, phần mềm, máy vi tính, máy công nghiệp có thuế suất là 0%. Thị trường Nhật Bản có một số điểm khác biệt mang tính đặc trưng so với thị trường khác.

Đó là tại Nhật Bản, chất lượng được quan tâm hàng đầu chứ không phải giá cả như thông thường trong ngoại thương. Sự tràn ngập của hàng Nhật trên thị trường các nước khác chủ yếu là do các sản phẩm này có chất lượng cao. Hàng hoá nước ngoài muốn vào thị trường Nhật Bản trước tiên phải đáp ứng được những tiêu chuẩn chất lượng hàng. Hàng rào mang tính kỹ thuật của Nhật Bản luôn luôn hạn chế quy mô nhập khẩu. Một khiếm khuyết nữa trong những biện pháp phi thuế quan của Nhật Bản đó là chưa kịp thời chấn chỉnh thông tin, thậm chí cung cấp những tin sai đối với người tiêu dùng về vấn đề an toàn thực phẩm trên báo chí. Ngoài các biện pháp mang tính hành chính – kỹ thuật hạn chế nhập khẩu, hình thức tổ chức sản xuất, lưu thông, phân phối ở Nhật Bản cũng có ảnh hưởng nhất định đến tự do ngoại thương. Như vậy, bên cạnh những thành tựu đạt được, Nhật Bản vẫn còn những hạn chế trong chính sách bảo hộ mậu dịch như đã chỉ ra.

Read more 0

3 months ago ·

Nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động xuất khẩu của doanh nghiệp.

  • Môi trường kinh tế

Tình hình phát triển kinh tế của thị trưòng xuất khẩu có ảnh hưởng tới nhu cầu và khả năng thanh toán của khách hàng , do đó có ảnh hưởng đến hoạt đông xuất khẩu của doanh nghiệp. Các nhân tố ảnh hưởng tới sự phát triển kinh tế của thị trường xuất khẩu là tổng sản phẩm quốc nội (GDP) thu nhập của dân cư, tình hình lạm phát , tình hình lãi xuất.

  • Môi trường luật pháp

Tình hình chính trị hợp tác quốc tế được biểu hiện ở xu thế hợp tác giữa các quốc gia. Điều này sẽ dẫn đến sự hình thành các khối kinh tế, chính trị của một nhóm các quốc gia do đó sẽ ảnh hưởng đến tình hình thị trường xuất khẩu của doanh nghiệp.

  • Môi trường văn hoá xã hội

Đặc điểm và sự thay đổi của văn hoá – xã hội của thị trường xuất khẩu có ảnh hưởng lớn đến nhu cầu của khách hàng, do đó ảnh hưởng đến các quyết định mua hàng của khách hàng và ảnh hưởng đến hoạt động xuất khẩu của doanh nghệp.

  • Môi trường cạnh tranh

Mức độ cạnh tranh quốc tế biểu hiện ở sức ép từ phía các doanh nghiệp, các công ty quốc tế đối với doanh nghiệp, khi cùng tham gia vào một thị trường xuất khẩu nhất định. Sức ép ngày càng lớn thì ngày càng khó khăn cho doanh nghiệp muốn thâm nhập, duy trì, mở rộng thị trường xuất khẩu cho mình.

Các nhân tố khách quan:

Mỗi doanh nghiệp, công ty đều hoạt động trong một môi trường kinh doanh nhất định. Môi trường kinh doanh tạo những tiền đề thuận lợi cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp nhưng môi trường kinh doanh không thuận lợi sẽ mang lại cho doanh nghiệp không ít khó khăn Sau đây là một số công cụ mà các quốc gia thường sử dụng để quản lý, hỗ trợ cho hoạt động xuất khẩu của quốc gia mình.

  • Thuế quan.

Thuế quan là công cụ quản lý chính của nhà nước đối với hoạt động xuất khẩu của quốc gia mình. Thuế xuất khẩu được chính phủ ban hành nhằm quản lý hoạt động xuất khẩu theo chiều hướng có lợi nhất cho quốc gia mình đồng thời mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại, nâng cao hiệu quả cảu hoạt động xuất khẩu, góp phần bảo vệ cho sự phát triển sản xuất của hàng hoá trong nước. Nếu chính phủ muốn khuyến khích xuất khẩu một mặt hàng nào đó, họ sẽ giảm thuế xuất khẩu nhằm mục đích cho nhiều nhà doanh nghiệp hơn tham gia vào hoạt động xuất khẩu. Còn ngược lại nếu hạn chế xuất khẩu một mặt hàng nào đó, chính phủ sẽ tăng thuế, điều này sẽ hạn chế lượng doanh nghiệp tham gia vào hoạt động này.

  • Hạn ngạch xuất khẩu.

Hạn ngạch xuất khẩu được áp dụng như một công cụ chủ yếu trong hàng rào phi thuế quan và ngày càng có vai trò quan trọng trong xuất khẩu hàng hoá. Hạn chế hạn ngạch xuất khẩu là những quy định của chính phủ về số lượng cao nhất của một mặt hàng hay một số mặt hàng được phép xuất khẩu từ thị trường nội địa trong một thời gian nhất định thông qua hình thức cấp giấy phép. Cũng như thuế quan, chính sách về hạn ngạch xuất khẩu nhằm quản lý hoạt động kinh doanh xuất khẩu của các doanh nghiệp có hiệu quả hơn.

  • Trợ cấp xuất khẩu.

Trợ cấp xuất khẩu là một trong những biện pháp có tác dụng mở rộng thúc đẩy xuất khẩu đối với những mặt hàng được khuyến khích xuất khẩu. Biện pháp này được áp dụng vì khi thâm nhập vào thị trường nước ngoài thì sự rủi ro cao hơn nhiều so với tiêu thụ trong nước. Việc trợ cấp xuất khẩu cho các mặt hàng được thể hiện dưới nhiều hình thức: trợ giá, miễn giảm thuế xuất khẩu, giảm lãi vốn vay cho hoạt động xuất khẩu…

  • Nhân tố chính trị – pháp luật

Đây là nhân tố hoàn toàn khách quan đối với doanh nghiệp. Các nhà xuất khẩu luôn phải chú ý đến các yếu tố về chính trị pháp luật như:

* Các quy định của nhà nước đối với hoạt động mua bán hàng hoá quốc tế.

* Các hiệp định thương mại mà quốc gia tham gia.

* Các quy định nhập khẩu hàng hóa của quốc gia mà mình tham gia hoạt động xuất khẩu.

* Các vấn đề pháp lý và tập quán quốc tế có liên quan tới xuất khẩu như luật bảo hiểm quốc tế, luật vận tải quốc tế, các quy định về giao nhận ngoại thương…

Read more 0

3 months ago ·

Môi trường Nhật Bản

  • Môi trường tự nhiên

v Vị trí: Nhật Bản nằm ở phía Đông của châu Á, phía Tây của Thái Bình Dương, do bốn quần đảo độc lập hợp thành. Bốn quần đảo đó là: quần đảo Kuril (Nhật Bản gọi là quần đảo Chishima), quần đảo Nhật Bản, quần đảo Ryukyu, và quần đảo Izu-Ogasawara. Những quốc gia và lãnh thổ lân cận ở vùng biển Nhật Bản Nga, Bắc Triều Tiên, Hàn Quốc; ở vùng biển Đông Hải Trung Quốc, Đài Loan; đi xa hơn về phía Nam Philippines quần đảo Bắc Mariana. Vì là một đảo quốc, nên xung quanh Nhật Bản toàn là biển. Nhật Bản không tiếp giáp quốc gia hãy lãnh thổ nào trên đất liền. Tuy nhiên, bán đảo Triều Tiên và bán đảo Sakhalin (Nhật Bản gọi là Karafuto) chỉ cách các đảo chính của Nhật Bản vài chục km.

v Tổng diện tích: Trên đất liền: 377906,97 km², rông thứ 60 trên thế giới. Lãnh hải: 3091 km².

v Tự nhiên: Theo lý thuyết đĩa lục địa (plate tectonics), Nhật Bản nằm trên chỗ tiếp xúc giữa 4 đĩa lục địa là Á-Âu, Bắc Mỹ, Thái Bình Dương biển Philippines. Các quần đảo của Nhật Bản hình thành do vài đợt vận động tạo núi và có từ cách đây lâu nhất là 2,4 triệu năm. Xét về mặt địa chất học, như vây là rất trẻ.

v Chính vì vậy, Nhật Bản có hai đặc trưng tự nhiên khiến cho nó nổi tiếng thế giới đó là nhiều núi lửa, lắm động đất.

v Địa hình: Địa hình núi chiếm 73% diện tích tự nhiên của Nhật Bản. Số lượng sông suối nhiều, nhưng độ dài của sông không lớn. Ven biển có những bình nguyên nhỏ hẹp là nơi tập trung dân cư và các cơ sở kinh tế nhất là phía bờ Thái Bình Dương. Điểm cao nhất ở Nhật Bản là đỉnh núi Phú Sĩ, cao tuyệt đối 3776m. Điểm thấp nhất ở Nhật Bản là một hầm khai thác than đá ở Hachinohe, -135m.

  • Môi trường kinh tế – chính trị

v Về kinh tế

Nhật Bản hiện là một trong các nước có chỉ số lạm phát thấp nhất thế giới

Nhật Bản là nước rất nghèo nàn về tài nguyên ngoại trừ gỗ và hải sản, trong khi dân số thì quá đông, phần lớn nguyên nhiên liệu phải nhập khẩu, kinh tế bị tàn phá kiệt quệ trong chiến tranh, nhưng với các chính sách phù hợp, kinh tế Nhật Bản đã nhanh chóng phục hồi (19451954) phát triển cao độ (19551973)khiến cho cả thế giới hết sức kinh ngạc và khâm phục Người ta gọi đó là “Thần kì Nhật Bản”. Từ 1974 đến nay tốc độ phát triển tuy chậm lại, song Nhật Bản tiếp tục là một nước có nền kinh tế-công nghiệp-tài chính thương mại-dịch vụ-khoa học kĩ thuật lớn đứng thứ hai trên thế giới (chỉ đứng sau Hoa Kỳ), GDP trên đầu người là 36.217 USD (1989). Cán cân thương mại dư thừa và dự trữ ngoại tệ đứng hàng đầu thế giới, nên nguồn vốn đầu tư ra nước ngoài rất nhiều, là nước cho vay, viện trợ tái thiết và phát triển lớn nhất thế giới. Nhật Bản có nhiều tập đoàn tài chính, ngân hàng đứng hàng đầu thế giới. Đơn vị tiền tệ là: đồng yên Nhật.

Nhật Bản đang xúc tiến 6 chương trình cải cách lớn trong đó có cải cách cơ cấu kinh tế, giảm thâm hụt ngân sách, cải cách khu vực tài chính và sắp xếp lại cơ cấu chính phủ,… Cải cách hành chính của Nhật được thực hiện từ tháng 1 năm 2001. Dù diễn ra chậm chạp nhưng cải cách đang đi dần vào quỹ đạo, trở thành xu thế không thể đảo ngược ở Nhật Bản và gần đây đã đem lại kết quả đáng khích lệ, nền kinh tế Nhật đã phục hồi và có bước tăng trưởng năm 2003 đạt trên 3%, quý I/2004 đạt 6% và đến năm 2010 Nhật Bản vẫn là một siêu cường quốc kinh tế.

v Về chính trị

Nhật Bản là một trong các nước theo hệ thống quân chủ lập hiến, trong đó Thủ tướng là người nắm quyền cao nhất về các phương diện quản lý quốc gia và chịu sự giám sát của hai viện quốc hội cùng tòa Hiến pháp có thẩm quyền ngăn chặn các quyết định vi hiến của chính phủ. Được xây dựng dựa trên hình mẫu của Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland và một số nước phương Tây khác sau này. Theo hệ thống pháp luật thế giới hiện hành, Nhật Bản được xếp vào các nước có nền dân chủ đầy đủ (ưu việt nhất).

Quốc hội Nhật Bản là cơ quan lập pháp cao cấp nhất, gồm có Hạ viện với 512 ghế và Thượng viện với 252 ghế. Hạ viện được bầu ra từ 130 đơn vị bầu cử với số nghị viên từ 2 tới 6 vị tùy theo dân số. Nhiệm kỳ của Thượng viện là 6 năm, mỗi 3 năm được bầu lại một nửa.

  • Môi trường văn hóa xã hội

Nhật Bản là quốc gia có tính đồng nhất về sắc dân và văn hóa. Người dân không có nguồn gốc Nhật chỉ chiếm hơn 1% tổng dân số vào năm 1993. Do sống biệt lập với các quốc gia khác tại châu Á trong nhiều thế kỷ cho tới thời kỳ mở cửa vào năm 1868, Nhật Bản đã có các nét riêng về phong tục, tập quán, chính trị, kinh tế văn hóa… trong đó gia đình đã giữ một vai trò trọng yếu. Trước Thế Chiến thứ Hai, phần lớn người Nhật sống trong loại gia đình gồm ba thế hệ. Sự liên lạc gia đình đã theo một hệ thống đẳng cấp khắt khe theo đó người cha được kính trọng và có uy quyền. Người phụ nữ khi về nhà chồng phải tuân phục chồng và cha mẹ chồng nhưng sau khi Luật Dân Sự năm 1947 được ban hành, người phụ nữ đã có nhiều quyền hạn ngang hàng với nam giới về mọi mặt của đời sống và đặc tính phụ quyền của gia đình đã bị bãi bỏ. Phụ nữ Nhật đã tham gia vào xã hội và chiếm 40,6% tổng số lực lượng lao động của năm 1990.        

Read more 0

3 months ago ·

Một số luật Nhật Bản quy định về hàng may mặc

Để có thể nộp đơn xin cấp giấy phép sử dụng dấu chứng nhận tiêu chuẩn JIS cần phải có một số tiêu chuẩn nhất định về cách thức nộp đơn và các vấn đề chuẩn bị cho việc giám định nhà máy, chất lượng sản phẩm. Đối với các nhà sản xuất nước ngoài, các số liệu giám định do các tổ chức giám định nước ngoài do Bộ Trưởng Bộ Công Thương chỉ đình có thể được chấp nhận.

  • Luật nhãn hiệu chất lượng hàng hóa gia dụng:

Luật này đòi hỏi tất cả các sản phẩm quần áo đều phải dán nhãn trên nhãn ghi rõ thành phẩm của vải và các biện pháp bảo vệ sản phẩm thích hợp.

  • Luật kiểm tra các sản phẩm gia dụng có chứa các chất độc hại:

Luật này quy định tất cả các sản phẩm gia dụng phải tuân thủ các tiêu chuẩn về mức độ cho phép đối với các chất gây nguy hiểm cho da. Các sản phẩm may mặc có mức độ độc hại cao hơn mức cho phép sẽ bị cấm bán ở thị trường Nhật Bản.

  • Luật thuế hải quan:

Luật này quy định cấm nhập khẩu các sản phẩm mang nhãn mác giả mạo vi phạm nhãn mác thương mại hoặc quyền sáng chế.

Chú ý: nếu quần áo tơ lụa có các bộ phận được làm từ da hoặc lông thú thì sản phẩm này sẽ phải tuân theo các điều khoản của hiệp ước WASHINGTON.

        Các chính sách của Nhật Bản về nhập khẩu hàng may mặc là tương đối khắt khe, nhất là với các nước đang phát triển bởi các nước này ít kinh doanh dựa trên nhãn mác của mình, chất lượng sản phẩm chưa cao, tỷ lệ nội địa hoá sản phẩm thấp. Do vậy, công ty cần đẩy mạnh hơn nữa việc kinh doanh trên nhãn mác của mình, nâng cao tỷ lệ nội địa hóa sản phẩm băng cách sử dụng triệt để nguồn nguyên liệu trong nước một cách có hiệu qủa nhằm thích ứng với các chính sách của Nhật Bản và chiến thắng các đối thủ cạnh tranh.

Read more 0

3 months ago ·

Tăng đầu tư hiện đại hóa công nghệ-mẫu mã hàng may

Thực trạng rõ nét đối với hoạt động xuất khẩu hàng may mặc ở công ty là chủ yếu xuất khẩu dưới hình thức gia công (chiếm 80%). Do vậy, hiệu quả đem lại không cao. Nguyên nhân chủ yếu là do ngành Dệt ở nước ta chưa phát triển, công nghệ lạc hậu và không đồng bộ, thiết bị kĩ thuật chậm so với Trung Quốc, Thái Lan khoảng 5-7 năm, hàng năm sản xuất mới đạt 50-60% năng lực. Do vậy, chất lượng và số lượng vải trong nuớc kém, không đạt tiêu chuẩn quốc tế. Như trên đã phân tích, để nâng cao hiệu quả của hoạt động xuất khẩu hàng may mặc, công ty cần giảm dần hình thức gia công xuất khẩu và đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu theo phương thức FOB. Do vậy, giải pháp cần thiết ở đây là phải đầu tư phát triển ngành dệt để phát triển ngành may, bao gồm cả đâù tư chiều sâu và đầu tư các công trình mới, nâng cao trình độ công nghệ phát triển sản xuất đồng bộ. Đầu tư chiều sâu bao gồm cả đầu tư mở rộng là một yêu cầu cấp thiết để có nhiều mặt hàng thị trường trong và ngoài nước có nhu cầu, mặt hàng đạt chất lượng cao, giá thành hạ, có vải cho ngành may xuất khẩu theo phương thức FOB, chiếm lĩnh lại thị trường nội địa và hoà nhập vào thị trường may thế giới. Công ty cần tăng vốn cho các hoạt động nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ hiện đại, đặc biệt ưu tiên các công nghệ tiên tiến cho ngành dệt nhằm tăng nhanh các loại vải đủ tiêu chuẩn cho ngành may xuất khẩu. Đầu tư chiều sâu nhằm khắc phục các mất cân đối, đồng bộ hoá các dây chuyền thiết bị, bổ sung mới, cải tạo nâng cấp thiết bị cũ, đầu tư công nghệ mới, đào tạo nâng cao kỹ thuật quản lý tiếp thị, tổ chức lại sản xuất… để tăng một số mặt hàng chủ lực, có uy tín về nhãn hiệu hàng hoá, có giá cạnh tranh ở cả thị trường trong và ngoài nước. Các dự án đầu tư chiều sâu phải có bước đi phù hợp với tình hình kinh tế, kỹ thuật, với chiến lược phát triển của công ty. Dù là bổ sung một máy, một dây chuyền công nghệ… đều phải đảm bảo đồng bộ với công nghệ phụ trợ, đào tạo, quản lý … nhằm phát huy hiệu quả kinh tế sớm nhất. Song tìm giải pháp để tạo nguồn vốn cho đầu tư phát triển là một vấn đề quan trọng và cấp thiết, có tính quyết định tới tốc độ phát triển. Ngân sách Nhà nước thì hạn chế, nhiều công trình hạ tầng y tế và giáo dục Nhà nước phải ưu tiên. Bước đầu công nghiệp hoá của các nước nghèo Châu Á vẫn phải dựa vào vốn đầu tư nước ngoài để phát triển. Do vậy, với phương châm thực tế trong hoàn cảnh Việt Nam hiện nay, công ty cần nhanh chóng huy động vốn (phát hành trái phiếu vay từ các nguồn tín dụng trong và ngoài nước …) để cho vay (các dự án đầu tư) và thực hiện một số dịch vụ tài chính khác. Bên cạnh đó, công ty cần đầu tư phát triển sản xuất phụ liệu, nguyên liệu mà trong nuớc có điều kiện. Đây là chất xúc tác để chuyển đổi hình thức gia công xuất khẩu sang hình thức mua nguyên liệu bán thành phẩm. Vì theo hình thức mua nguyên liệu bán thành phẩm, công ty có thể tận dụng được những nguyên liệu, phụ liệu sản xuất trong nước, giá cả rẻ hơn làm tăng thêm lợi nhuận. Đồng thời thu hút thêm lao động, tạo thu nhập góp phần giải quyết thất nghiệp. Mặt khác, hình thức xuất khẩu này còn vừa tạo đầu ra cho ngành dệt vừa tạo đầu vào cho ngành may. Đặc biệt trong lĩnh vực mốt, công ty còn có nhiều bỡ ngỡ, chưa có đủ hiểu biết về yêu cầu thị hiếu của từng thị trường EU, Hàn Quốc, Nhật… nên sớm đầu tư thích đáng về cơ sở tạo mốt và nâng cao nghiệp vụ tạo mốt, sử dụng các thiết bị chuyên dùng computer, điện tử trong thiết kế cắt may, có kế hoạch hợp tác với viện Mốt, hoặc thuê chuyên gia thiết kế mốt người nước ngoài để rút ngắn quá trình thâm nhập và đẩy nhanh sản phẩm của ta tới các thị trường rộng lớn đó.

Read more 0

3 months ago ·

KHÁI NIỆM VÀ QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH NGÀNH LOGISTICS NHẬT BẢN

Khái niệm logistics Nhật Bản Theo Viện Hệ thống logistics Nhật Bản (Japan Institute of Logistics Systems- JILS)(2006): Logistics là việc quản lý đồng bộ các hoạt động như mua sắm, sản xuất, kinh doanh và phân phối theo nhu cầu nhằm tăng cường khả năng cạnh tranh, nâng cao giá trị của doanh nghiệp bằng cách làm thỏa mãn yêu cầu của khách hàng thông qua việc cắt giảm lượng hàng tồn kho, giảm tối đa sự vận chuyển để giảm chi phí cung ứng. Như vậy, khái niệm logistics của Nhật Bản thuộc nhóm định nghĩa thứ hai (theo cách phân chia về cách hiểu dịch vụ logistics như ở chương 1), dịch vụ logistics có phạm vi rộng, có tác động từ giai đoạn tiền sản xuất cho tới khi hàng hóa tới tay người tiêu dùng cuối cùng. Quá trình phát triển của ngành logistics Nhật Bản Theo Hikaru Kajita (2000) quá trình phát triển của logistics Nhật Bản trải qua các giai đoạn: phân phối vật chất, hệ thống Logistics, chuỗi cung ứng. Cách phân chia này trùng cách phân chia của Ủy ban Kinh tế và xã hội Châu Á – Thái Bình Dương (Economic and Social Commission for Asia and Pacific) của Liên Hiệp quốc (chương 1).

Phân phối vật chất: Giai đoạn này kéo dài khoảng 30 năm sau chiến tranh thế giới thứ II. Hoạt động logistics lúc này bao gồm các hoạt động riêng lẻ như: phân phối hàng hóa từ dây chuyền sản xuất tới khách hàng, cung cấp nguyên vật liệu đầu vào cho quá trình sản xuất, vận chuyển hàng hóa, lưu kho, đóng gói bao bì, kiểm kê hàng tồn kho, lựa chọn kho hàng, dự đoán thị trường, dịch vụ khách hàng. Trong giai đoạn này, tại Nhật đã bắt đầu hình thành những nền tảng khoa học cho ngành logistics. Năm 1957: Thành lập Trung tâm Nghiên cứu các hoạt động khoa học Năm 1960: Hiệp hội quản lý Nhật Bản thành lập Nhóm công nghệ phân phối Năm 1965: Bộ Thương mại quốc tế và Công nghiệp, Bộ Giao thông vận tải, Bộ Kế hoạch kinh tế đã ban hành "Kế hoạch phân phối vật chất mới".

Hệ thống logistics Thập niên 70: Mở rộng thị trường logistics Thập niên 80: Một số công ty hàng đầu Nhật Bản đã đáp ứng được sự thay đổi của thị trường Năm 1992: Từ phân phối vật chất chuyển sang logistics 2.3.Chuỗi cung ứng Năm 1985: Bắt đầu bãi bỏ thông tin liên lạc bằng sóng vô tuyến, cáp, sử dụng công nghệ thông tin vào quá trình sản xuất Tháng 12/1989: Bãi bỏ phiếu vận tải một phần Đầu 1990: Phản ứng nhanh trong ngành công nghiệp may mặc Năm 1992: Ứng dụng chuỗi cung ứng trong công nghiệp thực phẩm chế biến

Read more 0

Previous posts

Next posts