3 months ago ·

Các nhân tố ảnh hưởng đến năng suất lao động của nhân viên bán hàng công ty Cổ phần May 19

Tăng năng suất lao động có ý nghĩa kinh tế vô cùng to lớn không những đối với bản thân doanh nghiệp mà cũn vụ cũng quan trọng đối với nền kinh tế đối với xã hội nó là chỉ tiêu phản ánh hiệu quả kinh tế nói chung và hiệu quả sử dụng lao động nói riêng của các doanh nghiệp. Song năng suất lao động của nhân viên bán hàng ảnh hưởng trực tiếp đến doanh thu doanh số, doanh thu của doanh nghiệp là huyết mạch để doanh nghiệp tồn tại do vậy để có những biện pháp thúc đẩy nâng cao năng suất lao động nhân viên bán hàng của các doanh nghiệp chúng ta cần phải nghiên cứu tìm hiểu về những nhân tố ảnh hưởng đến năng suất lao động của nhân viên bán hàng. Dù là một cửa hàng không lớn, nhưng nhân viên bán hàng là yếu tố hết sức quan trọng một đội ngũ nhân viên chuyên nghiệp về cách phục vụ, cách giao tiếp, ứng xử với khách hàng trước hết sẽ tạo được cái nhìn thiện cảm từ phía khách hàng. Đó mới là điều kiện đủ, giúp doanh nghiệp tiêu thụ ngày càng nhiều hàng hóa hơn, và xây dựng những nhóm khách hàng quen thuộc. Đây là một trong những yếu tố tạo nên sự thành công và phát triển. Thực ra nếu xét về riêng rẽ thì có rất nhiều các nhân tố ảnh hưởng đến năng suất lao động của nhân viên bán hàng: tiền lương, kinh nghiệm, nhiệt huyết phục vụ tổ chức, mối quan hệ, cách thức làm việc, tác động tác nghiệp của nhà quản trị, cách làm việc và bố trí công việc của nhân viên, môi trường làm việc….

– Nhóm nhân tố liên quan đến nhân viên bán hàng

– Nhóm nhân tố liên quan đến công cụ lao động

– Một số nhân tố khác: đối thủ cạnh tranh, khách hàng, chính sách của Nhà nước

Read more 0

3 months ago ·

Nhóm nhân tố liên quan đến hàng hóa và nhân tố khác

Tùy theo mỗi lĩnh vực và nhóm hàng hóa khác nhau mà người ta bán hàng tham gia có được sự tham gia và thể hiện năng lực khác nhau. Tùy lĩnh vực và mặt hàng khác nhau, nhân viên bán hàng sẽ có phương thức khác nhau để giới thiệu cho khách hàng. Do đó, ở mỗi lĩnh vực và mặt hàng khác nhau mà nhân viên bán hàng cần có những kỹ năng nhất định. Nhân viên bán hàng là cầu nối giữa doanh nghiệp và khách hàng. Tuy nhiên kết cấu hàng hóa, mẫu mã và chất lượng sản phẩm lại là những yếu tố đưa khách hàng đến với doanh nghiệp và giữ chân khách hàng. Nếu hàng hóa hợp với nhu cầu thị hiếu của người tiêu dùng và đảm bảo được chất lượng thì doanh nghiệp sẽ có khả năng nâng cao được khối lượng tiêu thụ hàng hóa. Qua đó, năng suất lao động của nhân viên bán hàng cũng tăng lên. Mặt khác, khi kết cấu hàng hóa không phù hợp, chất lượng sản phẩm không đảm bảo thì sẽ rất khó khăn trong việc tiêu thụ hàng hóa, những khách hàng đã từng mua hàng cũng sẽ không tiếp tục sử dụng sản phẩm của doanh nghiệp. Năng suất lao động của nhân viên bán hàng vì thế mà cũng giảm đi. Do vậy, doanh nghiệp cần tìm hiểu và không ngừng nâng cao chất lượng, mẫu mã sản phẩm nhằm đáp ứng nhu cầu thị hiếu người tiêu dùng. Khi đánh giá năng suất lao động của nhân viên bán hàng cũng cần đánh giá đúng và loại bỏ ảnh hưởng của các nhân tố này. Một yếu tố vô cùng quan trọng khi khách hàng tìm đến và quan tâm đến sản phẩm của doanh nghiệp là giá cả. Nhân viên bán hàng đã giới thiệu sản phẩm của công ty tốt, mẫu mã đẹp đáp ứng được yêu cầu chung nhưng giá cả lại là yếu tố có thể làm thay đổi quyết định của khách hàng. Năng suất lao động của nhân viên bán hàng do đó mà giảm đi. Do đó, doanh nghiệp cần cân nhắc và cân đối hệ thống giá cả cho phù hợp với người tiêu dùng đồng thời có được mức lợi nhuận cao nhất.

– Đối thủ cạnh tranh: Khụng khú để nhận biết đối thủ cạnh tranh. Họ chính là những người mà các nhân viên bán hàng phải vất vả hàng ngày để giành được những thương vụ. Họ là những công ty có ý định lôi kéo các khách hàng tốt nhất của doanh nghiệp. Doanh nghiệp phải nhận biết được đối thủ cạnh tranh của mình là ai, có những điểm mạnh điểm yếu như thế nào? Bằng cách nghiên cứu đối thủ cạnh tranh, doanh nghiệp sẽ nhận thấy được thị trường và khách hàng mục tiêu mà mình cần đạt tới. Đó sẽ là yếu tố quan trọng giúp tăng năng suất lao động của nhân viên bán hàng.

– Khách hàng: Quan hệ khách hàng là những thông tin nhận được từ phản hồi của khách hàng thông qua những lần giao dịch qua nhân viên bán hàng. Những khích lệ có thể giúp cho nhân viên bán hàng hăng hái và đạt được thành quả cao hơn, năng suõt lao động cũng sẽ được tăng lên. Hơn nữa, nhân viên bán hàng nắm chắc những thông tin về sản phẩm có ý nghĩa quan trọng đối với một giao dịch thành công. Có hiểu rõ về những sản phẩm của doanh nghiệp, nhân viên bán hàng mới có thể thấy được ưu nhược điểm của doanh nghiệp và giới thiệu cho khách hàng, giúp cho khách hàng hiểu rõ được về sản phẩm cũng như về doanh nghiệp.

– Chính sách của Nhà nước: Tại hội thảo báo cáo cạnh tranh VN năm 2009-2010 do Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương (CIEM) tổ chức, các chuyên gia kinh tế cảnh báo rằng, so sánh các yếu tố để đo năng lực cạnh tranh theo chuẩn quốc tế thì hầu hết các chỉ số của VN đều thấp. Như vậy, muốn tăng trưởng nhanh thì bên cạnh các giải pháp đầu tư về cơ sở hạ tầng, đầu tư vốn, công nghệ, chúng ta phải ưu tiên cho giải pháp cải thiện năng suất lao động ở nước ta. Để nâng cao năng suất lao động, ngoài nỗ lực toàn diện của doanh nghiệp (đổi mới công nghệ, chất lượng hóa lao động, đổi mới phương pháp quản lý) rất cần sự hỗ trợ của Chính phủ, các cấp chính quyền theo tinh thần hướng về DN, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho DN hoạt động hiệu quả.

Read more 0

3 months ago ·

Cơ sở pháp lý và hình thức cho vay du học tại VPBank

  • Mục đích cho vay

Phục vụ nhu cầu của du học sinh bao gồm:

  • Xác nhận năng lực tài chính
  • Thanh toán học phí, phí sinh hoạt và các chi phí khác (gọi tắt là chi phí du học) phát sinh trong quá trình học tập
  • Điều kiện cho vay
  • Khách hàng có đủ năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự
  • Người vay phải có hộ khẩu thường trú (hay KT3) cùng địa bàn của đơn vị cho vay trực thuộc VPBank (Hội sở chính hoặc các Chi nhánh)
  • Người vay có thu nhập ổn định
  • Người vay có tài sản thế chấp
  • Mức cho vay
  • Phù hợp với nhu cầu vay vốn và khả năng trả nợ của khách hàng
  • Tổng số tiền cho vay một khách hàng không vượt quá mức chi phí của khoá học do nhà trường hoặc cơ sở đào tạo ở nước ngoài thông báo.
  • Tối đa bằng 70% giá trị tài sản thế chấp do VPBank thẩm định hoặc bằng 95% giá trị tài cầm cố là giấy tờ có giá, hoặc tối đa 65% giá trị tài sản cầm cố là ô tô hoặc tài sản khác được VPBank chấp thuận
  • Thời hạn vay

Thời hạn vay căn cứ vào thời gian học cộng thêm 1 năm, nhưng tối đa không quá 10 năm.

  • Đồng tiền vay

Cho vay bằng đồng Việt Nam hoặc cho vay bằng đồng Việt Nam đảm bảo ngoại tệ, cho vay bằng ngoại tệ theo quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

  • Lãi suất cho vay:

Lãi suất cho vay áp dụng theo khung lãi suất cho vay do VPBank quy định trong từng thời kỳ tuỳ theo thời hạn cho vay:

  • Nếu thời hạn vay không quá 12 tháng thì áp dụng lãi suất cố định
  • Nếu thời hạn vay quá 12 tháng thì áp dụng lãi suất thả nổi. Ban tín dụng/ Hội đồng tín dụng quyết định cụ thể từng món vay.

Hình thức cho vay:

        VPBank bắt đầu cho vay du học từ cuối năm 2004 t đó đến nay VPBank đang cho vay theo hai hình thức sau:

  • Cho vay xác nhận năng lực tài chính (Cho vay để mở sổ tiết kiệm)

Hình thức này áp dụng với các khách hàng có nhu cầu hoàn thiện h sơ đi du học. Khi có nhu cầu vay đ m s tiết kiệm xác nhận năng lực tài chính khách hàng s đến ngân hàng làm th tục. Khi đáp ứng được các điều kiện của ngân hàng, khách hàng được cấp cho s tiết kiệm với điều kiện khách hàng phải ký qu 5%.

Thời hạn cho vay đối với hình thức này thường ngắn. Rủi ro đối với hình thức cho vay này cũng thấp vì thực tế tiền cho vay vẫn nằm ngân hàng.

  • Cho vay thanh toán chi phí du học

Hình thc cho vay này áp dụng với những khách hàng có nhu cầu tr các chi phí du học khi h chưa có kh năng. Tu vào nhu cầu vay và kh năng tr n của khách hàng mà ngân hàng s quyết định mức vay phù hợp. Các khoản vay này được tính bằng đồng Việt Nam hoặc ngoại t và được chuyn ra nước ngoài sau khi vay.

Thời hạn cho vay đối với hình thức này thường là trung và dài hạn. Rủi ro đối với hình thức này cũng cao hơn so với hình thức cho vay xác nhận năng lực tài chính.

Read more 0

3 months ago ·

Tác động tích cực của phát triển KCN đến phát triển kinh tế

(1) Tác động tích cc đến quá trình công nghip hóa đất nước.

Vit Nam đang trong giai đon đẩy mnh vic thc hin công cuc công nghip hóa – hin đại hóa (CNH – HĐH) nhm thc hin mc tiêu trang b cơ s vt cht cho ch nghĩa xã hi. Để đẩy nhanh quá trình CNH – HĐH Vit Nam cn phi thc hin mt s tin đề cn thiết : vn tích lũy, đào to đội ngũ cán b khoa hc – k thut, công nhân lành ngh và cán b qun lý kinh doanh ; phát trin kết cu h tng và nâng cao năng lc lãnh đạo ca Đảng, vai trò ca Nhà nước.

Phát trin KCN là mt trong nhng gii pháp để to dng các tin đề nói trên, phát trin KCN là gii pháp tng hp, mang tính toàn din gii quyết đồng thi các yêu cu v vn, lao động, khoa hc – công ngh, trình độ qun lý, là con đường ti ưu để tiến ti mc tiêu trang b cơ s k thut cho ch nghĩa xã hi.

KCN huy động mt lượng vn ln, t nhiu ngun để phát trin kinh tế “tính đến tháng 4 năm 2006, tng s d án trong các KCN thu hút vn đầu tư trong nước là 2 400 d án vi tng s vn đầu tư đăng ký là 116 000 t đồng. Tng s d án có vn đầu tư nước ngoài trong các KCN là 2 200 d án vi tng vn đăng ký đạt 17,7 t USD”

KCN là nơi tiếp nhn công ngh mi, hin đại t nước ngoài là ch yếu, tp trung nhng ngành ngh mi, góp phn chuyn dch cơ cu kinh tế theo hướng CNH – HĐH.

Tóm li thành công ca mô hình KCN đã được khng định trên Thế gii và bước đầu đã thành công Vit Nam, như mt đòn by quan trng để đẩy nhanh tiến trình công nghip hóa và hin đại hóa đất nước.

(2) Tác động đến quá trình chuyn dch cơ cu kinh tế theo hướng tích cc và có li.

S ra đời ca các khu công nghip đã thúc đẩy chuyn dch cơ cu ngành kinh tế theo hướng tăng dn t trng công nghip và dch v, gim dn t trng nông nghip. Xu hướng này là chuyn dch theo hướng công nghip hóa – hin đại hóa.

Bên cnh đó, đối vi cơ cu theo thành phn s hu thì phát trin KCN làm tăng t trng thành phn ngoài quc doanh, trong đó đầu tư nước ngoài là mt ngun đáng k, điu này phù hp vi xu thế ca nn kinh tế th trường.

(3) Tác động mnh đến quá trình đô th hóa.

Thc tế đã chng minh, khi phát trin các KCN làm cho tiến trình đô th hóa din ra nhanh chóng và mnh m. C th là :

Cơ s h tng trong KCN và quanh KCN được đầu tư xây dng và nâng cp, t đó hình thành lên các th t, th trn, nhiu nơi phát trin nhng thành ph sm ut, có đầy đủ h thng đin, nước, giao thông phát trin, công trình phúc li hin đại đạt tiêu chun quc tế.

Các KCN phát trin kéo theo cơ cu lao động biến đổi. Lc lượng lao động trong ngành công nghip tăng lên, dn đến nâng cao t l công nhân và dân cư thành th.

(4) Tác động mnh đến quá trình hoàn thin môi trường đầu tư bng các chính sách phù hp.

Nhm thu hút đầu tư vào phát trin các KCN, Nhà nước ta đã đưa ra nhng chính sách nm tăng cường sc hút cho các KCN. Ngoài ra, các KCN đã tr thành vườn ươm, là nơi thí đim để đưa các cơ chế, chính sách tiến b vào thc tế như : cơ chế “mt ca ti ch”, cũng như nhiu chính sách khác v hoàn thin th tc kim quan, phát trin hot động tài chính – ngân hàng có s phi hp qun lý ca các KCN.

(5) Kích thích phát trin các loi hình dch v.

S phát trin các KCN to điu kin cho s xut hin các loi hình dch v : đin, nước, dch v ngân hàng – tài chính, x lý cht thi, dch v kho bãi, các dch v cung ng đảm bo đời sng cho công nhân trong KCN. Các loi dch v này là điu kin tt yếu khách quan để phát trin KCN.

(6) Tác động thúc đẩy hi nhp kinh tế quc tế.

Chính KCN Là nơi th nghim đầu tiên chính sách thông thoáng vi các nhà đầu tư nước ngoài; to điu kin cho các nhà đầu tư có môi trường thông thoáng thun li để kinh doanh, t đó to điu kin cho vic m rng quan h thương mi quc tế. Kim ngch xut nhp khu đạt được ti các KCN Vit Nam đã chiếm khong 1/3 tng kim ngch xut khu ca c nước, góp phn to uy tín thương mi ca ?

Read more 0

3 months ago ·

Đánh giá về khả năng áp dụng VHDN Nhật Bản ở Việt Nam

Chính vì sự thành công của văn hoá doanh nghiệp Nhật Bản, vấn đề này luôn tạo được sức hấp dẫn và có một tầm quan trọng đáng kể với các nhà quản lý trên khắp thế giới, do đó vấn đề áp dụng văn hoá doanh nghiệp Nhật Bản sang các nước khác là các vấn đề rất đáng để nghiên cứu. Tuy nhiên, về vấn đề tính khả thi của việc áp dụng văn hoá doanh nghiệp Nhật Bản vào các doanh nghiệp trên thế giới nói chung và doanh nghiệp Việt Nam nói riêng có những điều chúng ta phải lưu ý. Các chuyên gia đều cho rằng việc chuyển giao VHDN của Nhật là rất khó khăn bởi VHDN được hình thành trên cơ sở văn hóa. Mặt khác, những truyền thống, giá trị văn hóa, thẩm mỹ… vốn được coi là rất đặc biệt của Nhật Bản lại đều bắt nguồn từ quá khứ phong phú, lịch sử lâu đời của quốc gia này và những người thuộc nền văn hóa khác không tránh khỏi những khó khăn khi tiếp cận. Tuy nhiên Việt Nam là một quốc gia có vị trí chiến lược, sớm có sự tiếp thu và giao thoa giữa các nền văn hóa, lịch sử đã chứng minh Việt Nam là một quốc gia biết chọn lọc các giá trị văn hóa tốt đẹp của các dân tộc khác mà vẫn không làm mất đi bản sắc văn hóa truyền thống lâu đời. Việc ứng dụng mỗi vấn đề của VHDN Nhật Bản vào các doanh nghiệp Việt Nam chúng ta cần nhìn nhận những hệ thống tương tác, tương hỗ cho những ứng dụng ấy. Tuy nhiên, cơ bản là chúng dựa trên nền tảng văn hóa truyền thống có nhiều tương đồng xét về xã hội, cộng đồng và tổ chức.

Chúng ta có thể nghiên cứu việc ứng dụng chế độ làm việc suốt đời – một trong các yếu tố đặc trưng nhất của VHDN Nhật Bản để từ đó có cách hình dung rõ ràng cho việc ứng dụng các yếu tố còn lại. Sự thành công hay thất bại của tập quán quản lý luôn phụ thuộc vào sự thẩm thấu của các "yếu tố điều hoà" ở bên trong và bên ngoài công ty, những yếu tố này bắt nguồn từ ba cấp độ: mặt xã hội, cộng đồng và công ty. Sự tương tác giữa các yếu tố ảnh hưởng đến việc ứng dụng chế độ làm việc suốt đời được mô tả một cách rõ nét trong minh họa dưới đây Qua đó nhận thấy về mặt xã hội ở Nhật bản, những mối ràng buộc vững chắc và lâu dài với các nhóm đã hình thành và phát triển nhờ sự tin cậy vào gia đình. Hơn nữa, trách nhiệm nặng nề của bổn phận giúp đỡ nhau trong xã hội đòi hỏi phải có những mối quan hệ lâu dài và thân hữu. Cuối cùng, lòng nhiệt tình muốn hòa nhập công việc với đời sống cá nhân của người Nhật Bản đã góp phần tạo ra sự hỗ trợ vững chắc, sự ủng hộ mạnh mẽ với hình thức tuyển dụng suốt đời. Về mặt cộng đồng thì xã hội Nhật Bản là một cộng đồng tương đối có trật tự. Mô hình tuyển nhận lao động mỗi năm một lần đã tạo ra luồng sinh khí ổn định và lâu bền cho việc sắp xếp công ăn việc làm phù hợp. Bên cạnh đó, nhiều cộng đồng vẫn còn thiếu một cơ sở hạ tầng thỏa đáng về các phương tiện giải trí.

Đương nhiên, người lao động coi hoạt động của công ty là hoạt động xã hội của họ. Một câu hỏi đặt ra là việc áp dụng VHDN Nhật Bản đã từng được áp dụng tại Mỹ nhưng đã đi đến những thất bại, vậy có lý do gì VHDN Nhật Bản sẽ có khả năng ứng dụng thành công ở Việt Nam. Qua mô hình trên ta có thể thấy các hệ thống tương tác hỗ trợ không có yếu tố nào phù hợp với Mỹ về cả mặt xã hội, cộng đồng hay tổ chức Việc khác biệt về văn hóa truyền thống, cá quan niệm giá trị đạo đức khiến việc áp dụng VHDN Nhật Bản ở các quốc gia khác là điều hết sức khó khăn. Với những sự tương đồng của mình, Việt Nam hoàn toàn có thể áp dụng những nét đẹp của VHDN Nhật Bản vào các doanh nghiệp của mình, tuy nhiên chúng ta không áp dụng y nguyên hay áp dụng mô hình ấy một cách thụ động. Các doanh nghiệp Việt Nam chỉ chọn lựa những giá trị nào phù hợp với giá trị mà mình đang có.

Read more 0

3 months ago ·

Định hướng phát triển văn hóa Doanh nghiệp tại Việt Nam

Ngày nay, cùng với sự thay đổi nhanh chóng của kinh tế đất nước nhất là khi Việt Nam đang ngày càng hội nhập sâu rộng vào các sân chơi chung của thế giới, đặc biệt là trở thành thành viên chính thức của tổ chức thương mại thế giới WTO, điều đó đặt ra những yêu cầu đối với các doanh nghiệp Việt Nam làm sao để có thể đứng vững và dần dần nâng cao năng lực cạnh tranh. Thực tế đặt ra yêu cầu cho các doanh nghiệp cần phải xây dựng VHDN cho mình bởi chỉ có VHDN mạnh thì các doanh nghiệp Việt Nam mới tạo được sự khác biệt, tạo ra thế mạnh khi được mang ra so sánh với các doanh nghiệp nước ngoài. Trong quá trình phát triển, mỗi doanh nghiệp đều nỗ lực xây dựng một hệ thống quan điểm giá trị để công nhân viên chức chấp nhận, tạo ra sự hài hòa trong nội bộ doanh nghiệp, một không khí văn hóa tích cực để phát huy thế mạnh văn hóa của tập thể, tăng cường nội lực và sức mạnh của doanh nghiệp.

VHDN là một giai đoạn phát triển của tư tưởng quản lý doanh nghiệp hiện đại, thể hiện sự chuyển dịch chiến lược phát triển kỹ thuật nhằm tạo nên những sản phẩm hàm chứa hàm lượng văn hóa cao. Bởi thế, có thể coi VHDN là yếu tố tối quan trọng của thực tiễn doanh nghiệp đương đại. Tuy nhiên có hai vấn đề đặt ra cho những nhà lãnh đạo doanh nghiệp, đó là tính hai mặt của một vấn đề, bởi không phải VHDN nào cũng thúc đẩy doanh nghiệp phát triển. Nếu VHDN được xây dựng phù hợp với trình độ phát triển của doanh nghiệp, lấy nền tảng văn hóa truyền thống thì những giá trị văn hóa ấy sẽ có thể trở thành những giá trị tích cực được chia sẻ rộng rãi trong doanh nghiệp, có ý nghĩa thúc đẩy sản xuất kinh doanh và tinh thần làm việc của nhân viên. Tuy nhiên, ngược lại, nếu VHDN không theo kịp trình độ phát triển của doanh nghiệp thì VHDN sẽ không có tác động tích cực nếu không nói là có thể tác động tiêu cực tới sự phát triển của doanh nghiệp. Bên cạnh đó, nếu VHDN không phù hợp với văn hóa truyền thống dân tộc, những giá trị VHKD cần được giữ gìn của quốc gia, thì trước sau khi VHDN ấy cũng bị đào thải, trở thành yếu tố kìm hãm doanh nghiệp. Ngay từ năm 1943, khi chưa giành được chính quyền, trong "Đề cương văn hóa", Đảng ta đã chủ trương xây dựng nền văn hóa Việt Nam "dân tộc, khoa học, đại chúng". Quán triệt tinh thần ấy, các nghị quyết của Đảng sau này về văn hóa văn nghệ, đặc biệt là Nghị quyết Trung ương 5 (khóa VIII) và sau này được khẳng định lại trong Nghị quyết Trung ương 10 (khóa IX) về xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, đã xác định phát triển văn hóa là một trong ba nhiệm vụ quan trọng được tiến hành đồng thời trong suốt thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước: "Phát triển kinh tế là trọng tâm, xây dựng Đảng là then chốt, văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội".

Read more 0

3 months ago ·

Các kỹ năng cần thiết cho nhân viên văn phòng

Kỹ năng giao tiếp Khái niệm: Giao tiếp giỏi không có nghĩa là bạn phải là một nhà hùng biện xuất sắc hoặc nhà văn tuyệt vời. Nó cũng không có nghĩa là bạn buộc phải thể hiện bản thân mình thật tốt trước mặt người khác. Kỹ năng giao tiếp được thể hiện ở việc bạn thuyết phục người khác như thế nào và kết quả ra sao? Hãy nhớ, giao tiếp cũng giống như việc bạn viết một bản báo cáo cũng cần có sự thống nhất, yếu tố thuyết phục về nội dung và một phong thái bình tĩnh, tự tin khi thể hiện (từ trang phục, đầu tóc đến bước đi và cách bạn chuyện trò với những người xung quanh). Thêm nữa luôn kiên nhẫn giải thích cho các thành viên khác trong nhóm làm việc cũng là cách bạn đang rèn luyện kỹ năng giao tiếp của bản thân.

 Phong cách giao tiếp: o Giao tiếp phi ngôn ngữ chiếm từ 55-65%. o Giao tiếp ngôn ngữ chỉ chiếm khoảng 7%. o Sự kết hợp giữa giao tiếp ngôn ngữ và phi ngôn ngữ chiếm khoảng 38%

 Giao tiếp ngôn ngữ:

• Ngôn ngữ là phương tiện để biểu đạt ý nghĩ của mỗi người. Khi bạn muốn nói chuyện hoặc trao đổi thông tin với một ai đó thì bạn phải sử dụng ngôn ngữ để truyền tải những thông điệp mà bạn muốn bày tỏ. Ngôn ngữ là một công cụ giao tiếp mà chúng ta luôn sử dụng nó hàng ngày. Nhưng để việc giao tiếp có hiệu quả hơn và truyền tải được những thông tin mà bạn muốn nói một cách rõ ràng và chiếm được cảm tình của người khác là điều mà ai cũng cần học hỏi.

• Trong giao tiếp sử dụng ngôn ngữ, bạn cần chú ý

• Âm điệu của lời nói: Vừa phải, dễ nghe, không cao giọng quá, nói to quá hoặc nói nhỏ quá…

• Khi nói chuyện nên tập trung vào chủ đề đang thảo luận, tránh để tư tưởng bị phân tán dẫn đến không hiểu nội dung câu chuyện.

• Khi đối tượng giao tiếp đang nói thì ta nên lắng nghe, tuyệt đối tránh ngắt lời hoặc cướp lời của người nói khi họ chưa nói hết ý của họ.

• Trong khi giao tiếp nên tránh "thao thao bất tuyệt" mà không chú ý đến thái độ của đối tượng giao tiếp. Hoặc đưa ra nhiều câu hỏi cùng một lúc khiến người khác không kịp trả lời.

• Khi nói về một chủ đề nào đó, nếu ta không được rõ thì lúc này nên lắng nghe chứ không nên "nói bừa", nghĩa là phải đảm bảo sự thành thật và chính xác trong lời nói của mình.

• Không nên bảo thủ chỉ coi trọng ý kiến của mình mà không tôn trọng ý kiến của người khác.

 Giao tiếp phi ngôn ngữ:

• Chúng ta sử dụng ngôn ngữ cơ thể, thể hiện nét mặt, ánh mắt diễn tả ý nghĩa những gì chúng ta định nói. Kĩ năng này rất quan trọng vì nó sẽ giúp cho việc giao tiếp của bạn đạt hiệu quả hơn. Hãy cố gắng kết hợp việc giao tiếp không dùng ngôn ngữ với những gì bạn đang nói để thông điệp của bạn mang ý nghĩa điều bạn muốn nói.

• Những biểu hiện có tác dụng tích cực trong giao tiếp không dùng ngôn ngữ mà bạn nên học tập và sử dụng: • Khi nói chuyện hoặc trao đổi một vấn đề nào đó thì bạn phải quay mặt về hướng của đối tượng giao tiếp, ở tư thế ngang tầm có thể cùng đứng hoặc cùng ngồi, tránh ở tư thế cao hơn hoặc thấp hơn nhiều so với đối tượng của mình. • Nét mặt luôn thể hiện sự niềm nở, biểu hiện sự quan tâm tới lời nói của đối tượng, tuỳ theo nội dung câu chuyện mà thể hiện sự lo lắng, đồng cảm hoặc vui vẻ.. • Trong khi giao tiếp bạn nên nhìn vào mắt duy trì ánh mắt với đối tượng giao tiếp. • Có những biểu hiện tán đồng hoặc thể hiện sự lắng nghe như: gật đầu… • Bạn nên hạn chế những hành động sau vì những hành động này không có tác dụng tích cực tới cuộc nói chuyện của bạn: • Không nhìn vào đối tượng giao tiếp. • Nét mặt cau có, chau mày… • Mắt nhìn đi nơi khác trong khi đối tượng đang nói. • Có những hành động thể hiện không quan tâm tới lời nói của đối tượng như: đọc sách, báo, tài liệu, luôn liếc mắt nhìn đồng hồ hoặc làm một việc riêng nào đó… • Nét mặt thể hiện sự bồn chồn, nóng lòng có vẻ như đang vội vàng đi đâu đó không chú ý tới đối tượng mình đang nói gì…

 Để việc giao tiếp của bạn đạt hiệu quả, để đối tượng giao tiếp của bạn cảm thấy được tôn trọng, để bạn và đối tượng hiểu rõ hơn về các thông tin cùng trao đổi thì bạn cần chú ý lắng nghe và có sự phản hồi.

• Lắng nghe: Lắng nghe là khả năng đón nhận và hiểu những thông điệp mà đối tượng muốn nói. Hãy tỏ ra là bạn đang chú ý tới người nói bằng cách gật đầu hay phản ứng đáp lại bằng những câu ngắn gọn thể hiện sự chăm chú của bạn như: ừ, à, thế à, vậy ư… Đừng ngắt lời người nói khi bạn đang nghe! Hãy lắng nghe và sẵn sàng tiếp thu chủ đề, không nên chỉ trích phê phán.

• Phản hồi: Có nghĩa là sử dụng những từ ngữ của mình để nhắc lại nội dụng câu chuyện mà đối tượng đang nói bằng những câu tóm tắt ngắn gọn.

Read more 0

3 months ago ·

Lý do cần thiết cho một cuộc họp

Lý do thiết thực để tổ chức một cuộc họp :Đưa ra những bằng chứng , tố cáo , thảo luận và quyết định . Một cuộc họp diễn ra để không chỉ đưa ra những thông tin chính xác mà nó có thể lưu hành như một bản ghi nhớ hoặc bản báo cáo . Nhưng thỉnh thoảng thông tin cần sàng lọc hoặc mọi người có thể hỏi những câu hỏi về nó . Một báo cáo về tiến độ dự án hợp thành nhóm là trách nhiệm giữ cho mọi người cảm thấy bị thu hút hơn một bản ghi nhớ . Nếu bạn đang tổ chức lại doanh nghiệp và công viêc của mọi người và trách nhiệm của họ sẽ thay đổi , thẳng thắn nói cho họ biết tầm quan trọng của những thay đổi đó một bản ghi nhớ đơn sơ sẽ bị lăng mạ và phê phán ; Thảo luận :cuộc họp được diễn ra để nảy lên những ý tưởng theo nhiều hướng , tranh luận lên trên những chính sách mới . Cuộc thảo luận đề xuất những nhóm mục tiêu … .Đây là kiểu tranh luận không thể làm được bằng bất cứ cách nào khác . Và sự ảnh hưởng lẫn nhau của nhóm sẽ gợi lên những ý tưởng hoặc giải pháp mà sẽ không bao giờ nghĩ ra . Cuôc họp diễn ra bao gồm những người có liên quan để bảo vệ lợi ích của cá nhân cũng như tập thể . Nếu đuổi một trong số họ ra khỏi cuộc họp sẽ tạo ra cảm giác căng thẳng và kết quả của cuộc họp sẽ không được như mong muốn ; quyết định ngoài những dự định để ra những bằng chứng , kết luận như một lần chi phối từ sự suy tính trung tâm , khi kết thúc họ đưa ra những quyết định . Quyết định chỉ có thể rõ ràng khi có được thông tin hoặc thiết lập các yếu tố rõ ràng trước cuộc họp . Nhưng không có gì xảy ra như kết quả của cuộc họp đưa ra những quyết định đồng ý hay phản đối . Đây là giai đoạn của hầu hết các cuộc họp . Bạn có thể đạt đựơc kết quả giống như một người quản lý , đơn giản bằng cách ngồi một mình trong văn phòng và sau đó đưa ra những lời chỉ thị cho nhóm của bạn . Nhưng thường một cuộc họp là phương pháp tốt hơn , bạn có thể nghe ý kiến của người khác đưa ra và có thể tán thành nó .

-Lý do xã hội để tổ chức cuộc họp : Một cuộc họp tất cả ảnh hưởng không nói ra mà giúp gắn bó một nhóm hoặc một đội và nguyên tắc của mỗi thành viên trong nhóm: +Hình thành sự đồng hoá của nhóm : Việc mà bạn và tất cả mọi người trong nhóm cùng nhau định rõ mình như là một nhóm . Tăng cường đồng nhất nhóm có thể là lý do tổ chức một cuộc họp . Nếu bạn có một cuộc họp , mọi người từ các một bộ phận khác chỉ ra giải quyết vấn đề cụ thể , hợp lệ . Sự thống nhất của nhóm như một tập thể , số lượng người là không quan trọng . Nhưng bạn muốn mọi người trong nhóm phụ thuộc nhau . Bạn phải tỏ ra mình là người có khả năng tổ chức .

+Củng cố địa vị mỗi cá nhân trong nhóm : Kết cấu xã hội của nhóm là rất hiển nhiên trong các cuộc họp . Đây là nơi mọi người học hỏi lẫn nhau và là nơi họ thực hiện cả hai chức năng và thứ bậc của nhóm . Đúng hay sai là một phần của công việc lâu dài và một thành viên của nhóm cần hiểu những sắc thái này hợp lệ để cùng nhau làm việc hiệu quả . ở đó bạn cảm thấy mình quan trọng , cương vị lãnh đạo của bạn được củng cố.

Read more 0

3 months ago ·

Sự hình thành văn hóa Nhật Bản

Sự hình thành của VHDN Nhật Bản có thể coi bắt đầu manh nha từ thời kỳ Tokugawa6, trước thời kỳ này Nhật Bản là một dân tộc hòa bình thịnh vượng nhưng lại không có công nghiệp, những xí nghiệp kỹ thuật cao mà chỉ có những vũ khí tự vệ thô sơ nhất. Dưới sự lãnh đạo của Tokugawa Ieyasu đất nước đã có nhiều biến đổi. Thời kỳ này có sự phân biệt đẳng cấp khắt khe, tầng lớp cao nhất của xã hội là các Shogun (tướng quân), bên dưới các Shogun và gia đình hoàng đế là các Samurai (võ sĩ) hoặc Warrior (chiến binh) – họ là những người có lợi nhất trong giáo dục, địa vị chính trị. Dưới tầng lớp Samurai là những nông dân, người làm ra của cải và đóng góp phần lớn thuế cho xã hội. Nối tiếp bậc thang đẳng cấp là nghệ sĩ và thợ thủ công, tầng lớp cuối cùng là thương nhân – cái đáy của nấc thang xã hội. Tuy nhiên thời kỳ này, những chuyên gia buôn bán đã phát triển xã hội riêng của họ, việc xây dựng "Bộ luật hướng dẫn và hỗ trợ các tổ chức tài chính" đã có một vai trò quan trọng trong thế kỷ XIX, nâng cao quyền lực thương nhân, cải tiến địa vị của họ. Đứng trước sự lấn át địa vị truyền thống ưu thế, các Shogun và Samurai đã theo khẩu hiệu thực dụng, hòa nhập với thương nhân, tạo nên sự gắn bó trong xã hội, điều vẫn còn tồn tại tới ngày nay về mặt ý thức thực sự chứ không phải là hình thức. Xem xét về VHDN Nhật Bản, thực tế là có mối liên hệ chặt chẽ với quá khứ, nhưng hầu như những nét đặc trưng cơ bản đều mang dấu ấn của thời kỳ sau chiến tranh thế giới thứ hai.

VHDN Nhật Bản ngày nay phản ánh tính truyền thống nhưng đồng thời cũng cho thấy tính hiện đại ở mọi khía cạnh, phản ánh hoàn cảnh, những sự kiện đáng nhớ đã biến Nhật Bản từ chỗ khiêm nhường của một quốc gia bại trận sang niềm kiêu hãnh dân tộc của sự thần kỳ về kinh tế, điều đã khiến cả thế giới nể phục Nhật Bản. Khi chúng ta quan sát mô hình quản lý doanh nghiệp Nhật Bản có thể dễ dàng nhận thấy một điều: một mặt, người Nhật tiếp thu cách quản lý doanh nghiệp và kỹ thuật tiên tiến của Mỹ nhưng mặt khác, các doanh nghiệp Nhật đã chú trọng thích đáng đến việc xây dựng VHDN, làm cho bản sắc văn hóa dân tộc hòa quyện trong VHDN. VHDN vốn xuất phát từ Mỹ, tuy nhiên trong khi tiếp thu ở quy mô lớn hệ thống lý luận quản lý tiên tiến của Mỹ và châu Âu, Nhật Bản đã biết gạt bỏ chủ nghĩa cá nhân và chủ nghĩa tự do vốn là cơ sở của lý luận quản lý Âu, Mỹ để giữ lại văn hóa quản lý kiểu gia tộc, loại bỏ những nét văn hóa xung đột với văn hóa truyền thống. Vì chủ nghĩa tự do và chủ nghĩa cá nhân xung đột với văn hóa truyền thống của Nhật Bản. Với sự lựa chọn khôn ngoan đó, các doanh nghiệp Nhật Bản đã làm cho VHDN hòa nhập với bản sắc văn hóa dân tộc, sáng tạo ra VHDN độc đáo kiểu Nhật Bản.

Read more 0

3 months ago ·

Các hệ thống kiểm tra thực phẩm thuỷ sản nhập khẩu

(1) Kiểm tra thông thường: lấy mẫu xác suất theo đăng ký của nhà nhập khẩu.

(2) Kiểm tra giám sát . Mục đích của hệ thống kiểm tra giám sát là nhằm thu thập dữ liệu thông tin về tình trạng an toàn vệ sinh của các hàng hoá thực phẩm khác nhau được đưa vào Nhật Bản. Trong khi các trạm kiểm tra của Bộ Y tế Lao động và Phúc lợi thực hiện phân tích mẫu, hàng vẫn có thể làm thủ tục nhập khẩu mà không cần đợi kết quả kiểm tra. Hàng năm, hệ thống kiểm tra giám sát nêu rõ loại hàng hoá phải kiểm tra giám sát dựa trên số lượng nhập khẩu hàng năm và thông tin lưu trữ về những vi phạm trong quá khứ đối với mỗi hàng hoá.

(3) Hệ thống kiểm tra khác: Do thanh tra thực phẩm của Bộ Y tế Lao động và Phúc lợi thực hiện đối với: a. Thực phẩm lần đầu tiên được nhập khẩu vào Nhật; b.Thực phẩm không đảm bảo quy định của Luật vệ sinh thực phẩm; c.Thực phẩm gặp sự cố trong quá trình vận chuyển.

(4) Lệnh kiểm tra bắt buộc: Do Bộ Y tế Lao động và Phúc lợi Nhật Bản ban hành, căn cứ vào: Độ rủi ro của thực phẩm; Hiện trạng vệ sinh, an toàn thực phẩm của nước xuất khẩu; Lịch sử vi phạm của sản phẩm. Nhà nhập khẩu chịu trách nhiệm thanh toán chi phí kiểm tra.

(5) Cấm nhập khẩu toàn diện: Căn cứ lịch sử vi phạm, điều kiện đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm của nước xuất khẩu, nếu thực phẩm nhập khẩu vào Nhật Bản từ một nước hoặc một doanh nghiệp vi phạm Luật vệ sinh thực phẩm 5% trên tổng số thực phẩm được kiểm tra. Các đối tượng bị cấm nhập khẩu sẽ bị đưa tên lên mạng cảnh báo của Nhật (6) Biện pháp khẩn cấp: Dựa trên thông tin phát sinh từ nước xuất khẩu. Trong thời gian qua, ngành thuỷ sản Việt Nam liên tiếp nhận được những thông báo từ Bộ Y tế Lao động và Phúc lợi Nhật Bản cảnh báo phát hiện dư lượng chất Chloramphenicol trong sản phẩm cá mực và tôm biển của Việt Nam. Cụ thể là vào tháng 6/2006 Cơ quan kiểm dịch Nhật Bản đã phát hiện dư lượng chất chloramphenicol 0,0017 ppm, là chất không được phép có trong thực phẩm theo Luật Vệ sinh thực phẩm của Nhật Bản sau khi kiểm tra ngẫu nhiên sản phẩm cá mực của Công ty TNHH Trung Vĩnh xuất khẩu vào Nhật Bản. Do vậy, Bộ Y tế Lao động và Phúc lợi Nhật Bản có thông báo là từ nay tất cả các sản phẩm cá mực Việt Nam xuất khẩu vào Nhật đều bị kiểm tra mật độ 50% cho mỗi lô hàng (trước đây chỉ kiểm tra 1 số lần nhất định trong một năm), và kể từ ngày 27/6/2006, nếu phát hiện thêm một lần vi phạm tương tự thì phía Nhật sẽ áp dụng ngay lệnh kiểm tra 100% trước khi cho nhập khẩu vào Nhật. Tuy nhiên do phía Nhật Bản tiếp tục phát hiện dư lượng chất Chloramphenicol trong các lô hàng mực xuất khẩu từ Việt Nam nên kể từ 3/8/2006, 100% lô hàng mực xuất khẩu của Việt Nam khi vào thị trường Nhật sẽ bị kiểm tra.

Read more 0

Next posts